ĐÔNG DU – THẾ HỆ LƯU HỌC SINH VIỆT NAM ĐẦU

Cách đây ngót một thế kỷ, đã từng có những lưu học sinh Việt Nam đến nước đất nước Nhật Bản. Dù chưa được học đến nơi đến chốn, có thể nói họ là lứa học sinh Việt Nam đầu tiên trong lịch sử du học ở Nhật, và số phận của họ cũng có nhiều điều rất đặc biệt, gắn với cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Bối cảnh phong trào Đông Du

Phong trào Đông Du – tức du học sang Nhật – là một trong các sách lược cách mạng mà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu khởi xướng và tổ chức thực hiện. Những năm đầu thế kỷ 20, trước sự suy yếu dần của phong trào Cần Vương sau khi Phan Đình Phùng mất, và những cuộc khởi nghĩa khác đêu bị đàn áp, không thành công, cụ Phan đã nghĩ đến sách lược mượn viện trợ ngoại bang để đánh đuổi ngoại xâm. Và nước mà cụ nghĩ đến chính là Nhật Bản. Có lẽ trong thâm tâm, cụ nghĩ Nhật cũng là cùng giống da vàng như ta, hơn nũa Nhật vừa giành chiến thắng trong cuộc chiến Nga-Nhật. Thế là vào năm 1905, được sự ủng hộ của các đồng chí, cụ Phan đã lên tàu giả làm thương nhân qua Tàu rồi sang Nhật. Đến Nhật, qua giới thiệu của Lương Khải Siêu, cụ Phan đã được tiếp kiến các chính khách Nhật như Okuma Shigenobu và Inukai Tsuyoshi. Mục tiêu đặt ra ban đầu của cụ Phan là cầu viện về quân sự. Thế nhưng, thực chất Nhật Bản thời bấy giờ tiềm lực quân sự không thuộc hàng hùng mạnh trên thế giới, chiến thắng của họ vói Nga phần nhiều là do Anh và Mỹ hỗ trợ. Các chính khách Nhật không thể nói ra điểm yếu của họ, và rồi họ khuyên cụ nên chuyển sang hướng gửi thanh niên sang Nhật học hỏi và chờ đợi thời cơ. Cụ Phan về nước vận động, và năm sau, 1906, nhiều thanh niên Việt Nam đã sang Nhật, cùng với Kỳ ngoại Hầu Cường Để – sang Nhật với tư cách là người hoàng tộc để tiện bề giao tế. Cụ Phan còn về nuớc lần nữa cuối năm 1906 và sang Nhật lại đầu năm 1907.

Các lưu học sinh Đông Du

Hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Phan Bội Châu, đã có khoảng trên 200 thanh niên Việt Nam sang Nhật trong phong trào Đông Du. Họ được nhận vào học ở Chấn Võ Học Hiệu (Seijo Gakko) và Đồng Vạn Thư Viện (Dobunshoin). Trong số họ, chỉ một số ít là những người đã từng tham gia hoạt động cùng với cụ Phan trong nước như Trần Đông Phong, Lương Ngọc Quyến. Nhiều người là con cháu của các nhà giàu có ở vùng Sài Gòn – Lục Tỉnh, những người đã ủng hộ tài chính cho phong trào Cần Vương trước đó. Đa số các lưu học sinh lúc ấy còn rất trẻ, có nhiều người tuổi đời mới 13-15. Cuộc sống của đa số họ ở Nhật rất vất vả, có người phải xin ăn trong thời gian mới sang chưa gặp được cụ Phan. Một ngưòi nhận được tin cha mất nhưng không đủ tiền về dự tang, đã nén lòng trong mấy câu than:
Buồn biết bao, căm tức biết bao, nợ nam nhi chưa trả chút gì, bốn biển mênh mang, mây bạc trông về nhà có mẹ,
Khóc cũng vậy, tiếc thương cũng vậy, nghĩa trung hiếu giữ sao cho trọn, non sông biến đổi, giống vàng còn lại nước là cha.

Thời gian du học ngắn ngủi

Năm 1907, Nhật ký kết với Pháp một hiệp ước, theo đó, Nhật được hưởng một số quyền lợi kinh tế, với điều kiện phải trục xuất các nhà cách mạng và thanh niên Việt Nam. Thế là chính phủ Nhật đã ra lệnh trục xuất tất cả người Việt ra khỏi lãnh thổ, kể cả cụ Phan và Kỳ ngoại hầu Cường Để. Thậm chí, người Nhật còn mật báo với phía Pháp để phục bắt hoàng thân Cường Để khi vừa ra khỏi hải phận Nhật. Như vậy, cho đến năm 1908, không còn một lưu học sinh nào của Đông Du ở trên đất Nhật. Những người đến Nhật sau 1908 không thuộc lứa Đông Du, mà đi theo những con đường khác, mục đích khác; ví dụ, Lê Văn Quý, Đỗ Vạng Lý, Lương Định Của, Đặng Văn Ngữ… đi du học theo chương trình trao đổi giữa Pháp và Nhật từ những năm 1918-1919.

“Hậu vận” khác nhau của các lưu học sinh Đông Du

Số phận sau này của các lưu học sinh Đông Du cũng khá đa dạng: đa số sau này về nước, trở thành những nhà yêu nước tiếp tục chống Pháp; một số trở lại chốn quan trường; một số quay ngược cộng tác với thực dân; một số ít sống lưu vong trên đất Trung Quốc…

Trong nhóm đầu tiên, điển hình là Hoàng Trọng Mậu và Lương Ngọc Quyến. Cùng với Trần Đông Phong, họ là 3 du học sinh ưu tú, văn võ toàn tài, từng đựoc ví là “3 cọp Đông Du”. Hoàng Trọng Mậu về sau là thủ lĩnh của Quang phục quân – lực lượng vũ trang của Việt Nam Quang phục hội do cụ Phan thành lập năm 1912 ở Trung Quốc. Ông đã bị giặc Pháp bắt được trong một trận đánh, và nổi tiếng với câu đối trước pháp trường:

Ái quốc hà cô, duy hữu tinh thần nhi bất tử
Xuất sư vi tiệp, nhẫn tương tâm sự phó lai sinh.
(Dịch nghĩa: Yêu nước có tội gì, duy có tinh thần là sống mãi
Ra quân không thắng trận, nỗi niềm tâm sự gửi đời sau)

Lương Ngọc Quyến trong một lãnh đạo nghĩa quân tấn công Pháp đã bị bắt. Giặc rất khiếp sợ ông, như sợ cọp, chúng khoan vào vai phải ông một lỗ lớn để xích ông. Sau đó ông được Quang phục quân giải thoát, và trong lúc đang đau, ông vẫn yêu cầu 2 nghĩa quân cáng ông ra trận để đôn đốc chỉ huy đánh Pháp.

Trong số những lưu học sinh Đông Du đã đi ngược lại lý tưởng để hợp tác với Pháp có Nguyễn Thượng Huyền (cháu cụ Nguyễn Thượng Hiền) – người mà cụ Phan Bội Châu ngờ là đã bán cụ cho Pháp, Phan Bá Ngọc, Nguyễn Bá Trác (hay Nguyễn Phong Di) – người đã chỉ điểm cho Pháp bắt nhiều bạn Đông Du cũ.
Một số ít lưu vong và ở lại hẳn, trở thành công dân hay sĩ quan Trung Quốc thời đó, điển hình như Nguyễn Hải Thần (sỹ quan trong quân đội Tưởng Giới Thạch).

Tóm lại, phong trào Đông Du bên cạnh ý nghĩa là một sự kiện lịch sử dân tộc gắn với quá trình hoạt động cách mạng của nhà yêu nước Phan Bội Châu đầu thế kỷ 20, còn có thể coi như là cột mốc đầu tiên của việc du học nước ngoài của thanh niên học sinh Việt Nam, ít nhất là sang Nhật. Những người đang du học trên xứ sở Phù Tang ngày nay cũng đang theo đuổi mục tiêu chiến đấu với cái nghèo và lạc hậu, và rõ ràng họ có nhiều may mắn hơn cha ông nhiều. Mong sao họ xứng đáng là con cháu của các bậc tiền bối như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu…

Tagged: lịch sử

Bình luận bài viết

Bạn có thể dùng các thẻ HTML này:
<a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>